Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây hồng ăn quả

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY HỒNG ĐẦY ĐỦ

DIOSPYROS KALI L.


I. GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA HỒNG

 Cây hồng là một trong những cây ăn quả quan trọng của những nước Châu Á thuộc miền ôn đới như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên... và là một trong những cây ăn quả á nhiệt đới chịu rét nhất. Ở nhiều nước Châu Á người ta đánh giá quả hồng có giá trị dinh dưỡng và phẩm chất ngon hơn nhiều loại quả khác. Người Châu Âu cũng đánh giá hồng khá cao, còn người Mỹ đã gọi hồng là mỹ phẩm phương Đông.

Quả hồng chứa 12-16% đường chủ yếu là đường Glucose và Fructose, lượng axit thấp: 0,1% trong 100g thịt quả có chứa 0,16 mg caroten,16mg Vitamin C, ngoài ra còn có loại Vitamin PP, B1, B2 và các hợp chất hữu cơ.


II. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN SINH THÁI

 1. Yêu cầu về nhiệt độ:

 Hồng là cây á nhiệt đới, trong chu kỳ sống hàng năm có một giai đoạn “ngủ nghỉ” đòi hỏi nhiệt độ thấp để phân hóa mầm hoa. Tuy nhiên hồng không chịu được nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao, trong thời kỳ sinh trưởng cần nhiệt độ cao từ 20-30°C, tốt nhất là từ 22-26°C, nhiệt độ cần để hạt nảy mầm từ 13-17°C, nở hoa từ 20-22°C, để quả phát triển từ 26-27°C, khi chín cần nhiệt độ thấp hơn. Biên độ nhiệt lớn sẽ làm cho mã quả đẹp, phẩm chất tốt.

2. Yêu cầu về lượng mưa và độ ẩm:

     Cây hồng có khả năng chịu hạn hơn nhiều loại cây ăn quả khác như nhãn, vải, cam, quýt... Hồng có thể sinh trưởng bình thường ở vùng có lượng mưa thấp tới 500mm/năm, nhưng cũng có khả năng sinh trưởng bình thường ở vùng có lượng mưa cao trên 2000mm/năm, lượng mưa phù hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của cây hồng là 1200-2100mm/năm. Tuy nhiên, nếu mưa to hoặc mưa nhỏ kéo dài trong thời kỳ ra hoa (tháng 4) thì không tốt.

3. Yêu cầu về ánh sáng:

     Hồng là cây ưa ánh sáng, kết cấu bộ lá cũng thể hiện đặc tính này, lá dày to, mặt trên xanh thẫm (nhiều diệp lục) mặt dưới nhạt, bộ lá phủ kín tán cây. Do vậy các biện pháp canh tác cần phải làm tăng khả năng quang hợp, sử dụng tối ưu ánh sáng của cây hồng: trồng chỗ nhiều ánh sáng, thường xuyên đốn tỉa cành vượt, cành vô hiệu để cành lá phân bố đều trong tán. Ở những nơi đủ ánh sáng, cây thân cành thấp, tán lá rộng, quả phân bố đều trên tán, còn ở nơi thiếu sáng, cây mọc Vống, tán nhỏ, phân bố quả không đều, năng suất thấp.

4. Yêu cầu về đất đai:

     Hồng có tính thích ứng rộng, có thể trồng trên nhiều loại đất với yêu cầu tầng đất dày, thoát nước, mực nước ngầm thấp dưới 1 m. Hồng có ưu điểm nổi bật là chịu được đất xấu, đất nghèo dinh dưỡng hơn các cây khác, tuy nhiên, để đạt được năng suất cao, chất lượng tốt cần phải bón đầy đủ và cân đối các loại phân, đúng thời gian, đúng kỹ thuật. Độ pH của đất thích hợp đối với hồng là 5,0-5,5.


III. GIỚI THIỆU MỘT SỐ GIỐNG HỒNG

 1, Hồng Nhân Hậu:

 Thân cây màu xám, cành bánh tẻ màu nâu, tán hình bán nguyệt, quả to dẹt, khi chín màu đỏ thắm, vỏ quả mọng, thịt quả dẻo, ít hạt. Trọng lượng quả 150300g, tỷ lệ phần ăn được 89,08%; tỷ lệ chất khô: 18,08%, tỷ lệ đường 16,34%, tỷ lệ axit 0,29%, tỷ lệ caroten 34,87mg/% chất khô. Loại quả hình trái tim chín vào trung tuần tháng 8 âm lịch, và loại quả vuông có tài giả chín muộn hơn 1 tháng.

 2. Hồng Thạch Hà:

 Cây cao to, quả hình vuông, có khía sâu dọc quả tạo thành 4 mũi nặng trung bình 150g, tỷ lệ phần ăn được 93%, tỷ lệ chất khô: 18,15%, tỷ lệ đường 14,35%, tỷ lệ axit 0,28%, tỷ lệ caroten 16,82mg/%chất khô. Vỏ quả hơi dày, bóng, dễ bóc, khi chín có màu đỏ vàng, thịt quả màu đỏ hồng. Chín vào tháng 10, 11 âm lịch.



Hồng giòn

Ảnh minh họa ( giống hồng giòn )

3, Hồng Sơn Dương:

 Cây to, quả xanh màu vàng, quả chín màu đỏ, dễ bóc vỏ, ăn ngon, ngọt, chín từ tháng 8-9 âm lịch, quả hơi dài, trung bình nặng từ 150-200g.

 4. Hồng Thạch Thất:

 Thân cây màu xám, cành bánh tẻ màu nâu, tán cây tròn hoặc ô van, quả hình trụ tròn hơi lôi, khi chín có màu đỏ vàng, trọng lượng quả trung bình từ 120-250g, thường chín vào tháng 11-12. Tỷ lệ phần ăn được 84,6%, tỷ lệ chất khô là 19,78%, tỷ lệ đường 14,22%, tỷ lệ axit 0,22%, tỷ lệ caroten 2,27mg/% chất khô, quả chín nhão thịt, phải dấm khử chất chát mới ăn được.

 5. Hồng Hạc Trì:

 Cây cao to, sinh trưởng khỏe, tán thấp. Quả hình trụ, chôn quả hơi tù, có 4 cạnh rõ rệt, trọng lượng trung bình quả 100-150g, chín vào trung tuần tháng 8 âm lịch, chủ yếu ăn dưới dạng hồng ngâm. Khi chín có màu vàng hơi đỏ, thịt quả màu vàng, ăn dòn, ngọt, Tỷ lệ phần ăn được 82,73%, tỷ lệ chất khô là 19,6%, tỷ lệ đường 13,9%, tỷ lệ axit 0,17%, tỷ lệ caroten 2,195mg/% chất khô.

 6, Hồng Lục Yên:

 Quả dài tròn đều, chín vào tháng 8-9 âm lịch, khi chín quả màu vàng sáng, thịt quả màu vàng, chủ yếu ăn ở dạng hồng ngâm, ăn dòn, ngọt, trọng lượng trung bình quả từ 80-150g.

 7. Hồng Lạng Sơn:

 Quả nhỏ hình trái tim, có 4 rãnh dọc không sâu lắm, trọng lượng trung bình 50-100g, chín vào tháng 8 âm lịch, chủ yếu ăn dưới dạng hồng ngâm. Ngoài các giống trên còn các giống địa phương khác như: hồng Việt Cường (Thái Nguyên), Lập Thạch (Vĩnh Phúc), Văn Lý (Hà Nam)...


IV. CHUẨN BỊ ĐẤT TRỒNG

- Phát quang: Dọn cỏ và cây bụi để cây có đủ ánh sáng sinh trưởng và phát triển. 

- Thiết kế: Đất có độ dốc <10° thiết kế như trên đất bằng (bố trí trồng cây theo hình chữ nhật, hình vuông hay hình tam giác). Đất có độ dốc lớn hơn 10° thì phải thiết kế và trồng cây theo đường đồng mức (dùng thước chữ A).

- Mật độ: tuỳ đất, tuỳ giống trồng mà khoảng cách giữa các cây có thể là 4m x 4m; 5m x 5m hoặc 8m x 8m.

- Đào hố, bón lót:

  Đào hố kích thước 80cmx80cmx80cm, dùng 50100 kg phân chuồng hoai mục cùng với 1kg lân supe, 0,5kg Kali clorua và 1 kg vôi bột trộn đều với đất phù sa hoặc đất màu (tầng đất mặt), lấp cao hơn mặt hố một chút (chuẩn bị trước khi trồng 1-2 tháng).


V. KỸ THUẬT TRỒNG

1. Tiêu chuẩn cây giống:

    Cây giống là cây ghép được trồng trong bầu FE hoặc ở dạng rễ trần nếu trồng đúng thời vụ cuối năm âm lịch khi hồng rụng lá.

2. Thời vụ trồng:

    Tốt nhất là trồng vào tháng 1- 2 dương lịch (trước và sau tết Nguyên Đán). Khi cây rụng lá, ngừng sinh trưởng trong cây chứa nhiều chất dự trữ nhất nên dễ sống, khi trời bớt lạnh mầm mới bật ngay.

 Cách trồng:

 Dùng cuốc bới tâm hố đã chuẩn bị trước 1 - 2 tháng, xé bỏ túi bầu PE đặt cây vào giữa hố, lấp đất bằng mặt cây giống, nhấn chặt đều, dùng cọc đóng chéo buộc cố định, tưới đẫm nước, sau đó thường xuyên giữ đủ ẩm cho cây.


VI. KỸ THUẬT CHĂM SÓC


1. Chăm sóc thời kỳ cây chưa mang quả:

    Tưới nước, giữ ẩm, làm cỏ: Thời kỳ mới trồng phải thường xuyên tưới đủ ẩm cho cây, làm sạch cỏ gốc, đồng thời tủ cỏ khô xung quanh gốc để giữ ẩm.

- Bón phân: Trong 3 năm đầu lượng phân bón cho một cây là 100 g urê, 100g lân supe, 100g Kali sufat (hoặc kali clorua) chia làm 3 lần bón. -

+ Tháng 1 – 2: Bón 100% lân + 50% kali + 30% % %

đạm.

+ Tháng 4-5: Bón 20% Kali + 30% đạm.

+ Tháng 8: Bón nốt số phần còn lại.

Cách bón: Đào sâu 15-20cm quanh tán, cách gốc 30-40cm, rải đều phân, lấp đất kỹ, tưới đủ ẩm và tủ gốc bằng cỏ khô.

- Đốn tỉa tạo hình:

  Cây hồng vừa đem trồng đã phải đốn tạo hình ngay, chỉ giữ 1 thân, cắt cụt hết các cành để cây bật ra các cành mới khỏe, chọn trên thân chính 3 cành khỏe, mọc ra 3 hướng khác nhau để làm cành khung. Cuối năm thứ nhất chủ yếu là cắt ngắn các cành khung cấp 1, chỉ để 2 – 3 cành khung cấp 2 vào các vị trí thích hợp sao cho các cành đều hướng ra ngoài. Cuối năm thứ hai chủ yếu là cắt ngắn các cành khung cấp 2 và cuối năm thứ ba chủ yếu là cắt ngắn các cành khung cấp 3. Hết năm thứ ba coi như tán cây hồng đã ổn định, cây hồng bắt đầu bói quả và bước sang thời kỳ đốn tạo quả. 2. Chăm sóc thời kỳ cây mang quả:

Tưới nước, giữ ẩm, làm cỏ: Tưới đủ ẩm cho cây 2 lần/tháng, nếu có mưa thì thôi, tủ cỏ khô quanh gốc giữ ẩm. Hàng tháng làm sạch có gốc và cứ 3 tháng/lần làm sạch cỏ bằng.

Bón phân:

Phân chuồng: 2 năm bón một lần với lượng từ 3050kg/cây.

Cách bón: Đào rãnh sâu 20cm, rộng 20cm theo hình chiếu mép tán, luân phiên theo lần bón, chia 3 lần... + Tháng 12-1: 100% phân chuồng + 80% lân+ 60 đạm + 50% Kali

+ Tháng 5-6: 20% lân+ 20 đạm + 25% Kali + Tháng9 - 10: Số phận còn lại.

- Đốn tạo quả:

Đốn tạo quả phải căn cứ vào đặc tính ra hoa của cây hồng: cành quả chỉ sinh ra trên cành mẹ cành quả đã mọc từ năm trước. Cành mẹ cành quả chỉ sinh ra cành quả ở búp thứ nhất đến búp thứ ba tính từ ngọn xuống.

Nguyên tắc cơ bản của đốn tạo quả là không đến hớt ngọn vì sẽ cắt bỏ những búp sinh ra cành quả. Bởi vậy, nghĩa là cắt từ chân loại bỏ hẳn những cành mẹ cành quả nào quá yếu, cành đã ra quả rồi mà yếu cũng phải cắt tận chân, mặt khác nếu cành khỏe cũng cắt phía trên nơi đã có quả để lại 1-2 mầm, những mầm này năm sau sẽ phát triển thành cành mẹ cành quả và sẽ chọn ở gốc cành 1–2 cành mẹ cành quả khỏe nhất.

Như vậy, những cành mẹ cành quả năm nay phải được chuẩn bị từ năm trước bằng kỹ thuật độn thích hợp, không đến thì số cành mẹ cành quả sẽ khá nhiều, yếu ớt, quả sẽ bé. Những cành mẹ cành quả năm nay nếu được hướng dẫn sẽ chọn lựa và đốn tỉa đúng kỹ thuật thì năm Sau sẽ sinh ra những cành quả khỏe với số lượng quả vừa phải ở những vị trí cần thiết.


VII. MỘT SỐ SÂU BỆNH CHÍNH VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

1. Sâu hại:

* Sâu đục quả (Kakivoria flovefasiaca Nasamo): Là sâu non của một loài bướm đêm xuất hiện vào tháng 5-7. Trứng đẻ ở cuống hoặc tại quả, sâu non vừa nở ra đã đục vào tâm và làm quả rụng, trừ diệt bằng cách nhặt quả non bị sâu đục đem huỷ, phun Sevin 0,1% hoặc Bi 58,01%, Trebon 0,1% khi sâu mới xuất hiện.

* Rệp sáp : thường tập trung gây hại ở búp lá non, tại quả non vào khoảng tháng 2 – 3, trừ rệp bằng cách phun supracide 0,1% hay Trebon 0,1%.

* Sâu đo (Perenia Guenee): Phát sinh vào tháng 5, tháng 9 thường ăn trụi lá hồng, trừ diệt bằng cách phun Decid 0,1%, Polytrin 0,1%.

2. Bệnh hại:

    Bệnh giác ban hại hồng (Cercospora kaki): hại lá và tại quả hồng bằng những vết không đều: phía giữa màu nâu sáng, phía ngoài sẫm hơn. Bệnh thường phát sinh tháng 7,8,9 làm rụng lá, quả héo rụng.

 Cách phòng trị: nhặt và đốt lá bệnh, phun Bordeaux 1%.

* Bệnh đốm tròn (Mycosphaerella nacvae): phá hại lá từ tháng 7, 8, tháng 9 càng nặng. Vết bệnh tròn, ở giữa màu nâu nhạt, xung quanh màu nhạt hơn, nhưng ở lưng lá thì xung quanh màu xám. Vết bệnh càng già càng sẫm hơn, lá chuyển sang màu đỏ rồi rụng.

Cách phòng trị: nhặt và đốt hết lá bệnh, phun Bordeaux 1% hoăc Kasuran 0,1%.


VIII. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN, CHẾ BIẾN

1. Thu hoạch:

    Ở miền Bắc, hồng ngâm chín từ cuối tháng 8,9,10, hồng giấm chín vào tháng 10, 11, 12. Trên cùng 1 cây có quả chín trước quả chín sau, khi thu hoạch phải biết phân biệt để hái, quả chín trước hái trước. Quả chín thì màu quả chuyển từ xanh sang vàng hoặc vàng đỏ rồi đỏ dần. Hái đúng độ chín thì chất lượng quả tốt hơn. Nên hái vào buổi sáng hoặc chiều mát.


Quả hồng
Quả hồng chín

2. Bảo quản, chế biến:

Sau khi thu hái, quả hồng đang ở trạng thái cứng, có thể vận chuyển đi xa và bảo quản trong thời gian dài với những phương pháp thích hợp sau khi đã cắt sát cuống quả và loại bỏ hết những quả dập nát, sứt vỏ, mất tại, chín mềm, quả bị sâu bệnh... Có thể bảo quản bằng cách rải thành lớp mỏng nơi thoáng mát và khô.

Quả hồng hái xuống dù đã chín ăn vẫn chát (trừ một vài giống) vì trong dịch quả có chất tanin dưới dạng hòa tan, sau khi khử chát, tanin vẫn ở trong quả nhưng chuyển sang dạng không hòa tan nên không cảm thấy chát nữa.

Có nhiều cách khử chát như:

- Ngâm hồng: thường dùng đối với hồng Hạc Trì, Vĩnh Lạc, Lạng Sơn... Dùng chum hoặc vại sành xếp quả hồng vào rồi đổ nước sạch ngập sâu 20cm, ngâm trong 2 3 ngày, mỗi ngày thay nước một lần. Sau khi ngâm, vớt hồng ra rửa lại bằng nước sạch cho hết nhớt xung quanh quả, để ráo nước 1 ngày là ăn được.

Chú ý: Không ngâm bằng nước mưa và có một vài loại hồng phải ngâm trong nước tro lọc hoặc nước vôi trong.

- Giấm hồng: rửa sạch quả, để khô, xếp vào chum vại kín, ở giữa để 1 ống thoát hơi đan bằng tre, nứa.

+ Xử lý bằng hương đen: đốt 2-3 que hương đen trong ống thoát hơi, bịt kín miệng chum vại 24 giờ, sau đó xếp quả hồng ra nơi mát, 3-4 ngày sau quả mềm là ăn được.

+ Xử lý bằng đất phèn: cứ 15dm' dung tích chum vại dùng 5g đất phèn, bên dưới ống thoát hơi đặt 1 bát nước con, bỏ đất đèn vào bát, bịt kín miệng chum vại, 24 giờ sau lấy ra để ở nơi mát 3-4 ngày là ăn được. 

+ Giấm lá xoan: lá xoan xếp dưới cùng rồi xếp hồng, cứ 1 lớp lá 1 lớp hồng, sau đậy kín, khoảng 2-4 ngày bỏ ra là ăn được.

+ Xử lý bằng dung dịch etherel: nhúng quả hồng trong dung dịch etherel thương phẩm nồng độ 0,6% trong 7 phút, sau đó bảo quản trong điều kiện thoáng tự nhiên, sau 45 ngày là chín hết.

Chế biến: Chọn giống hồng giấm, bóc vỏ được, thịt quả rắn, làm khô bằng cách phơi nắng hoặc sấy ở nhiệt độ không quá 60°C nhằm làm chuyển hóa dân tanin hòa tan trong quả sang dạng kết hợp với các chất khác không có cảm giác chát và 1 phần đường Glucose dưới tác động của nhiệt độ tăng dần, vừa sấy vừa ép dần cho quả dẹt, rút hạt, giữ cho tai không rụng, quả hồng khô có độ ẩm đạt 35% sẽ dẻo nhất và dễ cất giữ nhất, có thể chuyển sang dạng mứt hồng có giá trị sử dụng cao trong các dịp lễ tết.


IX. KỸ THUẬT XỬ LÝ RA HOA, ĐẬU QUẢ

1. Xử lý bằng biện pháp cơ giới:

    Có thể dùng các biện pháp như khoanh vỏ, vặn dây thép ở các vị trí gần gốc cành để tăng khả năng ra hoa.

2. Dùng chất điều hòa sinh trưởng:

    Dùng NAA, 2,4D, GA,... với các nồng độ thích hợp phun vào lúc cây bắt đầu phân hóa mầm hoa để làm tăng khả năng ra hoa, phun khi hoa sắp nở, khi hoa nở được khoảng 50-100% và sau khi đậu quả sẽ làm tăng đậu quả và chống rụng quả, tất nhiên là phải kết hợp với việc đảm bảo dinh dưỡng cân đối và đầy đủ cho cây.

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn