Chăm sóc cây cảnh sao cho đúng ?

CÁCH CHĂM SÓC CÂY CẢNH

1 Nước 

Đối với người nuôi trồng cây cảnh, nắm vững kỹ thuật tưới nước là việc vô cùng quan trọng.

Phải chọn chất lượng nước tưới thích hợp, tốt nhất là nước trung tính hoặc hơi chua. Nước tưới cây cảnh là nước sông, nước ao, nước mưa, nước máy và nước giếng. Trong các loại thuốc đó nước mưa là tốt nhất, vì có rất nhiều chất tự nhiên, sau đó là nước sông và nước ao, nước này có độ phì lớn, nhất là nước ao màu hơi vàng lục. Nước giếng có nhiều chất khoáng nhưng dễ làm kiềm hoá đất, nên chỉ dùng khi không có loại nước khác.

Cay hoa hong
Hoa hồng dây

Trong thành phố phổ biến nhất là dùng nước máy, loại nước này đã qua xử lý làm sạch, ít khoáng chất, nhưng có nhiều chất thuốc hoá học và Javel. Tốt nhất là tích nước mưa sau một ngày để chất khoáng lắng đọng, nhiệt độ nước và đất gần nhau rồi tưới, cây hoa dễ tiếp nhận. Trước khi tưới có thể cho thêm vào nước mưa một ít vỏ quả, vỏ đậu ván tươi để làm nước chua hơn. Nếu nước quá lạnh, nhiệt độ dưới 10°C tốt nhất là đun nước ấm lên gần với nhiệt độ của đất.

Phải nắm vững thời gian tưới nước. Thời gian tưới nước cần căn cứ vào mùa, vào nhiệt độ và độ ẩm của không khí. Mùa hè và mùa thu nhiệt độ cao cần tưới vào buổi sáng hoặc buổi chiều, tránh tưới nước vào buổi trưa hoặc sau buổi trưa, vì nhiệt độ không khí cao làm cho nhiệt độ đất cao nếu tưới nước lạnh vào sẽ làm cho cây dễ bị thương. Mùa xuân hoặc giữa thu trời mát mẻ thường tưới vào buổi trưa; còn mùa rét thường tưới vào lúc 2-3 giờ chiều. Về số lần tưới nước, vào mùa hè thời tiết khô nóng, cây thân cỏ cứ 1-2 ngày tưới 1 lần; Với cây gỗ cách 3-4 ngày tưới 1 lần.

Nếu không khí quá khô nên tưới lên lá xung quanh cây để làm giảm nhiệt độ, tăng độ ẩm và có thể rửa sạch bụi trên mặt lá, có lợi cho hô hấp, tăng khả năng quang hợp của cây. Vào mùa thu, khí trời mát mẻ số lần tưới nước có thể giảm xuống 3-4 ngày 1 lần; đến mùa đông cây bước vào trạng thái ngủ nghỉ cần căn cứ vào thời tiết và độ ẩm không khí mà tưới 5-10 ngày 1 lần.

Phải căn cứ vào tập tính và tình hình sinh trưởng của cây cảnh mà xác định lượng nước tưới. Cây trồng trong chậu trong kỳ sinh trưởng mạnh phải tưới nhiều nước, nhưng khi hoa nở lại tưới ít nước, nếu không sẽ làm hoa rụng. Khi nhiệt độ thấp hoặc trời râm cũng nên tưới ít nước, vì lúc này cây bốc hơi chậm. Trời mưa mặc dù nước không thấm đến chậu vẫn không cần tưới vì cây có thể lấy nước trong không khí ẩm.

Tưới nhiều hay ít quá đều ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây cảnh. Tưới quá nhiều thường làm cho đất bị nén chặt, không khí khó thông gây ra thiếu oxy làm ức chế hô hấp của rễ, khi thiếu ôxy các loại vi khuẩn yếm khí hoạt động mạnh dễ làm cho bộ rễ bị thối. Nếu tưới nước không đủ cũng gây ra bệnh khô héo lá, thậm chí làm cho cây chết.

Các loài cây cảnh do môi trường khác nhau nên lượng nước mà cây cần cũng khác nhau, có thể chia ra 4 loại: cây mọc nơi khô hạn, cây mọc nơi ẩm, cây mọc trong nước và cây mọc nơi hơi ẩm.

Cây mọc nơi khô

Có thể chịu được khô hạn một thời gian dài. Loại này lá nhỏ, dày, mọng nước. Có loại đã thoái hoá có loại chuyển dạng lá kim. Thân thường hình ống, hình câu hoặc cầu dẹt. Mô tích nước phát triển, tầng biểu bì có chất sáp hoặc tầng cutin có thể ngăn nước bốc hơi. Các loài cây như: hoa sứ, hoa thạch liên, nam thiên trúc, lan lưỡi rồng...

Cây mọc nơi ẩm

Cây thích hợp với môi trường ẩm ướt, không chịu hạn. Loại này như cây quyết, hải đường thu, vạn niên thanh, cỏ mai rùa, hoa lan...

Cây mọc nơi hơi ẩm

Loại cây này không thích nghi với nơi có nhiều nước hoặc ẩm ướt, lại không mọc được nơi khô hạn, nói chung thích hợp với đất hơi ẩm. Phạm vi thích nghi của các loại cây này rất rộng, có nhiều loài. Đáng chú ý là loại này nhu cầu về nước không như nhau. Ví dụ: cọ, chuối cảnh, hồng có thể chịu được ẩm; hải đường, trúc mai rùa, hoa lan ưa độ ẩm lớn; đỗ quyên, mí lan, phù tang, bạch lan, đa búp đỏ, cũng ưa độ ẩm không khí cao, nhưng hoa anh đào, thiên trúc, hoa chuông vàng, hoa đào, trà, hoa quế, bạch ngọc lan, dâm bụt lại khá chịu hạn.

Cây mọc trong nước

Loại cây này thường mọc trong nước, ở nơi hơi khô là cây có thể chết như cây sen, thuỷ tiên, thuỳ liên....

Từ đặc điểm hình thái của cây mà phán đoán: lá to, mỏng, mềm, nhẵn thường thuộc loại cần nhiều nước, yêu cầu độ ẩm không khí lớn; lá nhỏ hẹp, cứng, bề mặt có chất sáp hoặc nhiều lông gai thì yêu cầu ít nước.


2. Đất

Ngoài việc tạo ra môi trường để có thể trồng cây trong nước, người trồng hoa không thể tách rời cây và đất - đất là nền cho cây cảnh sinh trưởng. Muốn trồng hoa tốt việc chọn đất thích hợp là điều kiện vô cùng quan trọng. Một trong những việc cần thiết khi trồng cây là chọn đất dinh dưỡng.

Đất dinh dưỡng là đất tơi xốp, phì nhiêu, thoát nước tốt, được trộn bởi các nguyên liệu, cách trộn như sau:

Dùng đất bùn hoạt trong vườn rau hoặc cây ăn quả, thêm một ít phân, nước giải tích đống lại, sau mấy tháng nghiền nhỏ, bỏ sạn sỏi để chuẩn bị dùng.

Xúc đất có cỏ bên đường, thu thập lá rụng, vỏ xác rau, vỏ đậu ván và bùn trộn rồi ủ động, tưới thêm một ít nước giải, sau khi lên men hoai thì đào lên dùng.

Dùng đất cát thô bên bờ sông hoặc đất hun nghiền nhỏ trộn với nhau thành đất trồng cây cảnh.

Dùng 50% đất vườn rau, vườn quả thêm vào 30% đất mùn và 20% đất cát thô, trộn với nhau thành đất trồng. Nếu bớt đất trồng rau, vườn quả đi 10 - 15%, thêm 20-30% bùn bờ sông vào thì càng tốt.

Mỗi loài cây cảnh yêu cầu độ pH nhất định, nếu cao hơn hoặc thấp hơn giới hạn cần thiết cây sẽ khó hấp

thu được dinh dưỡng dẫn đến bệnh thiếu dinh dưỡng, (nặng có thể làm cho cây chết). Nói chung các loài cây cảnh thường ưa đất chua như hoa trà, trinh nữ, dạ hương, hoa lan, đỗ quyên, cỏ đuôi phượng, cẩm cù, cỏ chân vịt... thích hợp pH 4,5 - 6,5 hoặc đất hơi chua pH 6,5 - 7,0 như: chuối cảnh, cỏ kim ngư, trúc quê hương, măng leo, báo xuân tứ quý... Các cây hoa cánh vàng, dâm bụt 3 màu, hoa thuỷ tiên, môn kim hương, cúc lá dưa, hoa quế, hoa hồng, mẫu đơn lại ưa đất có pH 6,5 - 7,5. Những loài hoa nghênh xuân, trúc đào lá hẹp, quỳ thiên trúc, phật thủ, lan quân tử, cẩm chướng, mai lá nhỏ yêu cầu pH 7,3 - 8.

Muốn thay đổi độ pH ta thường dùng các biện pháp sau: Nếu pH quá thấp (chua) thì bón thêm vôi hoặc tro bếp; khi pH quá cao (kiềm) có thể thêm một ít sunphat nhôm, sunphat sắt, bột lưu huỳnh, mùn, thường tưới dung dịch sunphat sắt và sunphát nhôm làm cho đất tăng thêm tính chua.

3. Phân

Cần rõ cây cần chất dinh dưỡng nào. Ngoài các chất vi lượng và 10 nguyên tố H, O, N, C, S, P, K, Ca, Fe, Mg, còn phải bón phân hữu cơ và vô cơ.

Bón phân cho cây cảnh là một trong những biện pháp quan trọng của việc nuôi trồng cây cảnh. Vấn đề mấu chốt của việc bón phân là bón đúng lúc cây yêu cầu và lượng bón thích hợp.

Bón đúng liều lượng là nắm vững bón bao nhiêu phân, nếu bón ít thì không có tác dụng, nhưng bón quá nhiều không những không đạt yêu cầu mà còn làm cho các cành hoa bị khô. Chú ý bón phân trong kỳ cây con xúc tiến sinh trưởng, kỳ ra hoa nên bón phân lân để có lợi cho cây ra hoa.

Chú ý đến mùa bón phân, mùa xuân hè cây sinh trưởng nhanh có thể bón nhiều phân, mùa thu cây sinh trưởng chậm nên bón ít; sang mùa đông thì không cần bón phân.

Số lần bón phân cũng là một vấn đề quan trọng, nên bón nhiều lần, nhưng lượng bón mỗi lần không nên nhiều; nhất thiết không được bón quá nhiều, quá đặc. Thời kỳ từ lập xuân đến lập thu nói chung 1 - 2 tuần bón 1 lần; sau lập thu cứ 2-3 tuần bón 1 lần, đến lập đông không cần bón.

Thường bón phân vào lúc chiều tối, đặc biệt chú ý mùa nóng nực không nên bón vào buổi trưa, vì nhiệt độ cao phân dễ gây vết thương cho rễ. Ngoài ra trước khi tưới nước phân, tốt nhất nên xới qua đất trong chậu, như thế có lợi cho việc thấm sâu vào rễ.

Phân hoá học như (NH4)2SO4 (Phân đạm), (Ca),PO, (phân lân), K2SO4 (phân kali) thích hợp với cây hoa trồng ở đình chùa. Hoa trồng trong chậu không nên bón nhiều vì dễ làm cho đất kết vón.

Chú ý đến lượng phân cho từng loài cây hoa. Ví dụ cây hoa quế, hoa trà ưa phân lợn, kỵ phân người và nước giải; hoa trà, hoa đỗ quyên nguồn gốc từ phía Nam kỵ phân có kiêm; hàng năm phải tỉa cành nên bón thêm phân lân, phân kali theo tỷ lệ nhất định. Những loài cây cảnh xem hoa như cúc, trong kỳ hoa nở phải bón phân đủ dinh dưỡng hoa mới đẹp; cây cảnh xem lá thì nên bón nhiều phân đạm; cây xem quả thì bón phân tổng hợp; nếu ngắm rễ củ thì bón phân kali để cho củ gốc cây to lên. Muốn hoa thơm thì bón phân lân, phân kali trong mùa hoa nở để làm tăng mùi thơm. Khi bón phân hữu cơ nhất thiết không bón phân chưa hoai, phải bón đúng lượng từ ít đến nhiều, từ loãng đến đặc, nếu không rễ cây sẽ bị cháy và cây chết khô.

Người ta đã tổng kết đúc rút: "4 nhiều, 4 ít, 4 không, 3 ký" cho việc bón phân.

 "4 nhiều: là bón nhiều phân khi: (1) cây vàng, yếu, (2) trước khi nảy chồi, (3) kỳ ra nụ hoa, (4) sau mùa hoa nở.

Đối với cây cảnh thân cỏ, nói chung khi cây mọc ra 4-5 lá là có thể di chuyển. Kiểu di chuyển này gọi là trồng giả, làm như vậy có thể làm cho cây mọc nhiều rễ chùm, có lợi cho việc trồng sau này. Khi bứng cây đi trồng, không nên làm tổn thương cây con, nên để một ít bầu đất. Trồng vào buổi chiều trời râm mát hoặc lúc có mưa phùn. Khi trời mưa nhiệt độ thấp, đất dễ bị kết dính, bộ rễ không trải rộng, đất không thoáng, sau khi trồng sinh trưởng sẽ chậm. Trước lúc chuyển cây phải nghiền nhỏ đất, khi đưa cây con vào hố phải bỏ đất bột vào bộ rễ, sau đó mới nén chặt, tưới đủ nước. Trồng xong phải chú ý giữ độ ẩm đất, che bóng, trên rễ cây cần được phủ rơm hoặc cỏ.

Đối với cây cảnh thân gỗ gọi là trồng đảo cây. Trông đảo cây có thể kích thích cây con sinh trưởng, tăng tỷ lệ sống của cây. Cây con mọc 1 năm nếu trồng đảo sinh trưởng nhanh còn cây con 2-3 năm mới trồng đảo sinh trưởng chậm. Sau khi đảo cây lần đầu, cứ 3-4 năm lại đảo một lần. Cự ly hàng và cự ly cây phải vừa phải, không quá dày hoặc quá thưa. Trồng đảo được tiến hành vào kỳ ngủ nghỉ của cây hoa, lúc lá rụng. Cây hoa thuộc cây lá rộng thường xanh, tính chịu rét kém, nên tiến hành trồng vào mùa xuân hoặc mùa thu, lúc có mưa phùn. Khi bứng cây chú ý không để tổn thương làm đứt rễ, chỉ cần cắt bớt rễ chính và rễ bên, cắt những rễ thối hoặc rễ gãy nứt.

Đối với những cây hoa quý như ngọc lan, khi bứng cây phải mang cả bầu đất, bên ngoài bầu được buộc chặt dây để tránh vỡ bầu. Sau khi đào cây cắt bỏ các cành bị sâu bệnh. Với cây thường xanh cần cắt bớt lá, vì sau khi trồng cây không thể hút ngay dinh dưỡng trong đất mới, phải qua một giai đoạn; giảm bớt gánh nặng cho bộ rễ, tăng sức sống của cây con.

Hỗ trồng cây phải được đào trước, lúc đào phải lấy tầng đất mặt có độ phì cao để sang một bên, nhặt hết sạn sỏi, rễ cỏ và các chất tạp. Nếu nơi trong đất xấu cần thay đất hoại, nhiều mùn. Tốt nhất là bón thêm phân lót, nước giải, phân người, phân gia súc, xếp đống, trộn đều ủ hoai, bỏ xuống đáy hố, phủ lên 10cm đất rồi mới trồng.

Sau khi trồng cần tưới nước, những cây cảnh to cần phủ lên xung quanh gốc một lớp đất cao, tưới nước phân gia súc. Khi gặp thời tiết khô hạn cần bọc quanh thân một lớp rơm để đề phòng vỏ cây bị thương. Đối với cây con thân cao cần phải làm cọc chống, bảo đảm cho cây sống.

4. Chọn chậu

Chậu hoa có rất nhiều loại, dựa vào chất của chậu mà chia ra các loại để chọn:

Chậu đất (hay chậu sành) là loại chậu thường dùng nhất, giá rẻ, thoáng, dễ thấm nước, bề ngoài đẹp, nhưng có một số chưa được đốt nung dùng 1-2 năm là tự vỡ.

- Chậu ngói, loại chậu này nhắn hơn loại chậu đất. Một số còn quét lên một lớp dầu bóng, bền chắc, nhưng tính thẩm hơi kém.

- Chậu xi măng cát, loại chậu này hay đặt ở các đình chùa nhưng tính thấm hơi kém.

- Chậu sứ, loại chậu này có tính thẩm hơi, thấm nước kém nhưng chế tạo tinh vi, quét lên một số hình làm đẹp môi trường.

Chậu nhựa nhẹ, bề ngoài đẹp nhưng tính thẩm nước và thấm hơi kém, người trồng hoa ít dùng.

Khi cây con gieo từ hạt mọc được 4-5 lá, rễ cây hoa đã có rễ bàng, thì phải kịp thời đưa cây vào chậu. Chậu hoa mới, nên ngâm nước một thời gian, tránh để chậu khô, ảnh hưởng đến khả năng hấp thu nước trong chậu và làm cho cây con thiếu nước.

Độ lớn của chậu hoa nên căn cứ vào độ lớn của cây hoa, không nên quá to hoặc quá nhỏ. Chậu quá to, lượng nước tích quá nhiều, cây hoa nhỏ, nước ít bốc hơi ảnh hưởng đến khả năng hô hấp của bộ rễ làm cho rẽ dễ bị thối. Chậu quá nhỏ, cây to, làm cho đầu nặng chân nhẹ, dinh dưỡng không đủ cho cây, bộ rễ không mọc được ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây hoa. Cây con nên dùng chậu hoa có đường kính 79cm là vừa.

Khi đưa cây con vào chậu, trước hết dùng một mảnh ngói để phủ một nửa lỗ đáy chậu, dùng mảnh ngói khác đậy chồng lên để làm lối thoát nước. Sau đó đệm một lớp cát, phía trên đổ đất chứa dinh dưỡng. Cây con phải trồng ở giữa chậu, phủ hết đất xung quanh, nhấc nhẹ cây lên 1-2cm, sau đó lắc chậu.

Không nên đổ đất đây chậu mà nên để cách miệng chậu 2-3cm, tiện tưới nước. Cây hoa không nên lấp quá sâu hoặc quá nông. Sau khi trồng cần tưới nước ngay, sau đó di chuyển đến nơi râm mát trong 1-2 tuần. Những cây hoa ưa sáng sau 2 tuần có thể chuyển sang nơi đủ ánh sáng, những cây ưa bóng chỉ sống nơi ánh sáng tán xạ không nên để nơi ánh sáng trực xạ.

Khi cây hoa lớn, chậu quá nhỏ, bộ rễ đã đây thì phải thay chậu lớn hơn để có thể tăng dinh dưỡng cho cây hoa.

Đối với cây thân cỏ 1-2 năm, trước khi hoa nở đều phải thay chậu 1-2 lần.

Những cây rễ thắt, cây hoa thân gỗ có thể mỗi năm thay chậu một lần. Mục đích thay chậu là cải thiện dinh dưỡng cho cây. Cây lan, nguyệt quế, phù tang, hồng nhất phẩm, hàng năm phải thay chậu một lần; cây trà, hoa lan, đỗ quyên tuy mọc chậm cũng phải 2 năm thay một lần.

Những cây hoa to sống nhiều năm do bộ rễ phát triển và do tưới nước, đất trong chậu sẽ dần dần kết vón, tính thấm khí kém, dinh dưỡng trong đất thường không đủ. Cho nên chậu hoa to tuy dùng chậu cũ cũng phải thay đất 2 năm 1 lần, cắt bỏ bớt các rễ hỏng, những rễ quá dài, quá nhiều và rễ bị sâu bệnh hại; đồng thời bỏ thêm một ít đất mới có lợi cho cây tiếp tục sinh trưởng. Thời gian thay chậu tốt nhất là vào thời kỳ ngủ nghỉ của cây hoa. Những cây thân gỗ và rễ thắt, nói chung cần tiến hành vào tháng, cây hoa mùa xuân cần tiến hành đảo chậu sau khi hoa nở.

Khi đảo chậu trước hết dùng dao xẻ đất quanh chậu làm cho đất tơi, tách cây ra, dùng tay đỡ lấy cây có đất. Cắt bớt các rễ quanh đất, một số rễ già, rồi chuyển sang chậu khác, lấy đất mới lấp lại, nén chặt, sau đó tưới nước. Mức chôn sâu trong đất của cây được chuyển chậu nên bằng độ sâu như ở chậu cũ.

Khi chuyển cây to để cho thoát nước tốt, cây nhẹ bớt, thì xới đất lên bỏ thêm một ít tro bếp, rồi bỏ thêm đất; đồng thời bỏ một ít vẩy cá làm phân lót, như vậy có thể giữ phân lâu hơn.

5. Bảo quản cây 

Mùa hè thường là mùa cây cảnh sinh trưởng phát triển, cũng là thời kỳ hoàng kim để giâm cành hoa. Nhưng mùa hè nóng lắm, mưa nhiều, sâu bệnh hại cũng phát sinh phát triển, cần phải chú ý việc bảo vệ hoa.

Mùa hè nóng như lửa đốt, rất nhiều loài hoa không thích hợp với nhiệt độ quá cao như vậy. Những cây hoa ưa sáng cũng phải được che bóng.

Mùa hè nhiệt độ cao, nước bốc hơi nhanh, phải kịp thời tưới nước nhưng không nên tưới vào buổi trưa, tốt nhất vào buổi tối tưới mỗi ngày 1 lần. Điều đáng chú ý là yêu cầu nước của mỗi loài hoa không như nhau. Đối với các loài lá to, lá mỏng có thể tưới nhiều, đối với các loài lá xẻ thuỳ, lá nhỏ, lá kim, do lượng bốc hơi ít có thể tưới ít. Tưới cây vào mùa hè phải căn cứ vào thời tiết mà vận dụng linh hoạt, tưới nhiều khi trời nắng nhiều, tưới ít khi trời râm nhiều, trời mưa thì không tưới. Trong trường hợp mưa liền mấy ngày cần phải che mưa hoặc nghiêng chậu để tránh tích nước để phòng rễ cây bị thối.

Mùa hè cây sinh trưởng nhanh, tiêu hao dinh dưỡng nhiều, cần phải bón đủ phân. Nhưng bón phân mùa hè cũng cần chú ý đến các loài cây hoa khác nhau.

Những cây hoa trồng chậu cứ hai tuần cần tưới nước phân hoai loãng. Đối với hoa trà, đỗ quyên hay là những cây ưa đất chua, hai tuần nên tưới một lần nước phèn loãng... Tưới nước phân nên tiến hành khi đất thô, trước khi tưới cân xới xáo đất trong chậu, cho bộ rễ có thể hấp thu được. Lúc bón phân còn phải tránh nước phân dính vào cành lá cây. Sau khi tưới 2 ngày phải nhớ tưới một lần nước. Tốt nhất là bón tưới phân vào lúc chiều tối.

Mùa hè cây sinh trưởng nhanh, ảnh hưởng đến mỹ quan và ra hoa kết trái, cành lá dài ảnh hưởng đến khả năng thoáng gió và chiếu sáng; phải cắt bỏ các cành dài lá mọc dày, các cành khô bị bệnh. Một số cây trồng vào mùa xuân, khi cây cao đến một độ nhất định phải tiến hành hái ngọn, để cây phân nhiều cành, nở nhiều hoa. Đối với một số loài cây hoa thân gỗ, nếu cành năm đó mọc trên 20cm cũng phải tiến hành hái đọt, làm cho cây mọc nhiều nhánh mới và cho nhiều hoa. Ngoài ra, hái đọt còn làm cho hoa nở đều hơn. Trên cành mọc nhiều chồi bất định sẽ phá hoại sự hình thành hoa nên cũng phải hái bỏ.

Đối với loại cây cảnh xem hoa như hoa cúc, hoa thược dược, cần hái bỏ bớt các nụ hoa ra nhiều và nụ bên, để làm cho hoa to hơn, tươi hơn.

Đối với loại cây hoa dùng quả như cây thạch lựu, cây phật thủ, nên kịp thời hái những quả non mọc nhiều, có như vậy ta mới có những quả to mẩy.

Mùa hè là mùa giâm cành tốt nhất đối với loại cây như đỗ quyên, mễ lan. Mùa thu có thể thích hợp với ghép chồi, ghép dựa như cây bích đào, bạch lan, mai hoa... Một số cây hoa lọ thân cỏ gieo hạt cũng vào mùa hè, như dâm bụt 3 màu, cúc lá dưa, gieo vào tháng 5-6 là thích hợp nhất.

Mùa đông trời rét, đất lạnh, phải áp dụng một số biện pháp chống rét để đề phòng hiện tượng sương muối.

Đối với cây thân gỗ cần dùng cỏ hoặc vải bọc thân, đối với cây bụi cần tiến hành phủ đất, thiết kế nơi che gió.

Nếu ít chậu, có thể chuyển chậu vào phòng. Những cây hoa nở vào mùa xuân và cây ưa sáng cần để sát tường gần cửa sổ. Nếu trời rét, nhiệt đột trong phòng xuống dưới 6°C cần phải dùng chao dạng mũ để đậy (trên chao chọc thủng mấy lỗ), khi trời ấm mới dỡ ra.

Những loài cây khác yêu cầu ánh sáng không nghiêm ngặt có thể chịu được nhiệt độ thấp có thể để nơi râm mát không cần ánh sáng; Cây thân gỗ chịu rét không cần phải di chuyển vào phòng. Sau khi di chuyển vào phòng không cần phải bón phân tưới nước.

Trong mùa đông, cây hoa sinh trưởng chậm, nước bốc hơi ít, cho nên ngoài các cây như hoa trà, hoa cúc, cúc lá dứa nở vào mùa đông xuân nên tưới thêm một ít nước phân (nên tưới nước ấm khoảng 20°C), nói chung các loài cây hoa nên ngừng tưới phân và nước. Bởi vì đất chậu hoa quá ẩm, khả năng chống chịu sẽ yếu đi thậm chí còn làm cho rễ cây bị thối, lá bị rụng. Mùa động lượng mưa ít, không khí trong phòng khô một số loài hoa ưa ẩm có thể phun một ít nước vào lá.

Ngoài ra, hàng ngày nên mở cửa sổ 1-2 lần, mỗi lần 0,5 - 1giờ. Nếu hai bên tường đều có cửa sổ sau khi mở không khí được lưu thông, thời gian mở có thể ít hơn. Nên mở mấy lần, mỗi lần bao lâu phải căn cứ vào nhiệt độ không khí và gió lạnh; trời ấm không có gió thời gian mở cửa sổ cần dài hơn, trời lạnh có gió thì mở ngắn hơn.

6. Bệnh và các biện pháp phòng chống

Sâu hại cây cảnh thường được chia ra các loại sau: sâu hại rễ, hại thân, hại lá, hại hoa quả. Ngoài việc tăng cường kiểm dịch, trồng đúng kỹ thuật, chú ý vệ sinh đất và môi trường còn cần phải bảo vệ thiên địch, bẫy đèn, bắt trực tiếp, ngâm nước nóng, dùng thuốc.

Hiện nay ta thường gặp một số loài sâu hại cây cảnh như sau:

Rệp sáp: thân nhỏ, tiết ra chất sáp, tụ tập trên cành, lá, quả, dùng miệng hút nhựa trên lá, cành làm cho cành khô mà chết.

Rệp sáp thường gặp trên các loài cây trà, xấu hổ, hoa hồng, quế, mai, thạch lựu, trúc lưng rùa, mẽ lan, bạch lan.

Trong thời kỳ trứng rệp sáp nở phun Rogor 0,1% hoặc DDVP 0,1% 7-10 ngày phun 1 lần, phun liên tục 2-3 lần, bảo vệ các loài thiên địch như bọ rùa, ong nhỏ bắt rệp.

Nhện đỏ: thân nhỏ, dài 1mm màu vàng hoặc đỏ, sức sinh sản mạnh, mỗi năm trên 10 lứa. Khi nhiệt độ ao, khô hạn, sinh sản càng nhanh gây hại càng nặng. Nhện trưởng thành dùng miệng chích hút nhựa trong mô thịt lá làm mất chất diệp lục, làm cho lá có các đốm vàng rồi rụng.

Thường gặp nhện đỏ trên phật thủ, quất, hoa hồng, hoa quế, hướng dương, chuối rẻ quạt...

Phòng trừ: Hái hết lá bị khô, phun thuốc Dicofol 0,1%. Phun DDVP 0,1% hoặc Rogor 0,1% để diệt nhện trưởng thành, phun hợp chất lưu huỳnh Vội 0,3 độ Be để diệt trứng.

Rệp ống: thân nhỏ, mềm phần lớn có ống, thường tụ tập hàng trăm con trên lá, cành non để hút nhựa cây 

gây ra hiện tượng lá xoăn, rụng và chết. Ta thường gặp chúng trên cây dâm bụt, hoa cúc, hoa lan, tử đinh hương, hoa đào, ổi, hoa mai...

Khi mới có rệp dùng chổi lông quét sạch. Để đề phòng lây lan phải kịp thời phun thuốc Rogor 0,1% DDVP 0,1%.

Rận phán: thân nhỏ, trên thân có phủ phấn trắng, tụ tập gây hại, dùng vòi hút nhựa cây làm cho lá vàng khô, rụng.

Hoa hồng cổ


Thường gặp chúng trên lá đỗ quyên, hoa hồng, cúc vạn thọ, trà, hoa lan, quất...

Phòng trừ. Dùng Permethrin, Decis, Sumicidin 0,05% để phun. Có thể dùng Rogor, DDVP phòng trừ. Đối với trứng rận có thể dùng DDVP xông hơi, dùng 1ml/m2 dầu sữa.

Bọ xít lưới: thuộc loại thân nhỏ dẹt, dài 3,6mm, rộng 2mm, màu nâu đen, mảnh lưng ngực trước và cánh trước có vân hoa dạng lưới; sâu con dẹt dài 1,95mm rộng 0,95mm, ngực trước phát triển, có mầm cánh, bụng phát triển màu đỏ,

Bọ xít lưới mỗi năm có trên 10 lứa gây hại lá đỗ quyên.

Phòng trừ: Bắt giết bọ xít khi mới xuất hiện. Bảo vệ các loài thiên địch như nhện, kiến. Khi bị hại nặng, có thể dùng thuốc Rogor 0,02%, DDVP 0,1%. Dùng Furadan vùi vào trong đất chậu hoa (mỗi chậu 5g bón sâu 5cm) có thể đạt được mục đích phòng trừ.

Ve lá: thân nhỏ, sáng sống ở dưới lá hút nhựa cây, lá bị hại thành đốm trắng nhạt, rồi khô dần. Ve lá sinh sản nhiều lứa, thích ứng mạnh với khí hậu, thường truyền bệnh virus.

Phòng trừ. Phun Dipterox 0,1%; Padan 0,1% hoặc Decis 0,05% để phòng trừ.

Bọ hung: Sâu trưởng thành ăn hoa, lá, cành non, khi phát dịch có thể ăn trụi lá, hoa.

Thường gặp các loài bọ hung xanh đồng hại hoa hồng, anh đào, hải đường. Bọ hung đốm trắng hại dâm bụt, hoa hồng, hải đường.

Phòng trừ: Bắt diệt bọ hung. Mùa sinh sản nhiều phun Rogor 0,1%. Lợi dụng tính xu quang ban đêm có thể bẫy đèn bắt.

Xén tóc: loại sâu đục thân, mỗi năm đẻ 1 đến nhiều lứa, qua đông bằng sâu non trong thân cành cây Sâu non và sâu trưởng thành đều ăn hại đây, xén tóc gây hại có thể làm cho cây chết.

Thường gặp xén tóc ở hoa cúc, bích đào, mai.

Phòng trừ: Khi có sâu trưởng thành cần bất diệt, dùng tay mây hoặc dây thép móc sâu non trong cây.

Có thể tiêm thuốc vào lỗ sâu rồi bịt kín bằng bùn ướt. Thuốc thường dùng là: DDVP, Rogor.

Dế mèn: thường gây hại rễ cây con, mỗi năm đẻ 1 lứa. Ban đêm cắn ngang cây mang về hang.

Phòng trừ: Dùng thuốc sữa Phoxim 0,1% phun vào gốc cây.

Trong quá trình sinh trưởng phát triển cây cảnh không thể tránh khỏi sự xâm nhiễm của bệnh.

Các loại bệnh hại bao gồm bệnh không truyền nhiễm và bệnh truyền nhiễm.

* Bệnh không truyền nhiễm là bệnh không lây lan. Nguyên nhân do nhiệt độ, độ ẩm, đất đai, phân bón không thích hợp.

Muốn phòng trừ những bệnh này, chỉ cần nâng cao điều kiện sinh trưởng, cải thiện các biện pháp trồng.

* Bệnh truyền nhiễm là bệnh lây lan do các sinh vật gây ra như nấm, vi khuẩn, virus, tuyến trùng. Trong điều kiện thuận lợi chúng có thể lây lan nhanh, tác hại nghiêm trọng.

Bệnh truyền nhiễm có thể phát sinh do môi trường không sạch, cỏ dại nhiều, bệnh lây nhanh. Chỉ có cải thiện điều kiện môi trường, cải tiến kỹ thuật trồng cây mới làm cho cây khoẻ, nâng cao tính chống chịu bệnh, giảm bớt nguồn lây bệnh.

Cây cảnh thường gặp một số bệnh sau:

Bệnh phấn trắng phát sinh trên lá và cành non, cuống hoa, cuống nhồi. Bộ phận bị bệnh được phủ lớp bột trắng, lá non và hoa xoăn lại, bệnh nặng có thể làm cho cây cắt

Bệnh qua đông trên chồi, cành bệnh và lá rụng. Khi nhiệt độ 18 25°C sẽ sinh ra bào tử lây lan xâm nhiễm. Tháng 6-8 hình thành hàng loạt bào tử và tái xâm nhiễm. Nếu bón nhiều phân nitơ, đất thiếu canxi hoặc đất cát khô đều có thể làm cho bệnh phát sinh. Những nơi thiếu ánh sáng, độ ẩm không khí cáo, không thoáng gió cũng làm cho bệnh nặng thêm. Những nơi biến đổi nhiệt độ nhiều, đất khô phá hại tác dụng bốc hơi bình thường, làm giảm sức căng mô tế bào làm giảm sức chống chịu bệnh, bệnh cũng nặng dân.


Phòng trừ: Chọn cây không bệnh để trồng.

Tăng cường quản lý, kịp thời tưới nước, thông gió; mùa đông cắt lá cành khô đốt đi. Phun thuốc: Đầu xuân phun hợp chất lưu huỳnh Vôi 3 - 4 độ Be; Kỳ phát bệnh phun Topsin-0,1% hoặc Bavistain 0,1%.

Bệnh gỉ sắt hình thành bào tử đảm trên cành non và gốc lá, thời kỳ đầu phiến lá và cuống hoa có các đốm sùi lên, vỏ nứt và bào tử hạ màu vàng bay ra.

Khi nhiệt độ 24 - 25°C, độ ẩm 85%, bệnh sỉ sắt sẽ phát sinh và lây lan. Những nơi quản lý cây kém, trồng quá dày không thoáng gió, thiếu ánh sáng, tích nhiều nước trong đất, nghèo dinh dưỡng hoặc bón phân quá nhiều rất dễ bị bệnh gỉ sắt.

Phòng trừ: Chọn cây không bị bệnh để trồng; Tăng cường quản lý, bón phân hợp lý, cắt tỉa cành bệnh, đốt đi; Phòng trừ bằng thuốc: Đầu mùa xuân phun hợp chất lưu huỳnh vôi 3 - 4 độ Be; Mùa sinh trưởng phun Xineb 0,1% hoặc Topsin 0,1%.

Bệnh bồ hóng thường thấy trên lá cây hoa trà, làm mốc đen cả cây và ảnh hưởng đến quang hợp của lá cây. Phòng trừ: Cần tiến hành tỉa cành định kỳ, để nơi thông thoáng và đủ sáng.

Bệnh hồ bóng liên quan mật thiết với rệp ống; rệp bio sáp, nhện đỏ, tiêu diệt các loài sâu hại này sẽ làm giảm bệnh bồ hóng. Khi dùng thuốc trừ sâu có thể thêm 0,1% thuốc tím để trừ nấm bồ hóng.

1 Bệnh đốm lá gây hại trên lá tạo nên các đốm tròn, màu tím, đỏ, nâu, đen, xám, trắng, có viền mép rõ rệt. Trên đốm có các chấm nhỏ đen tạo thành các vấn vòng hoặc đồng tâm.

Phòng trừ: bằng cách chọn cây chống chịu bệnh; Luân canh trong 2 năm tăng cường bảo vệ lá mới;

Phun thuốc: Nước Boocđô 0,1% hoặc thuốc bột thấm nước Maneb 0,1% hoặc Daconil 0,1%.

Bệnh đốm than chủ yếu gây bệnh trên lá, có thể cả trên cành non, thường có hai hiện tượng giữa đốm bệnh xuất hiện màu nâu nhạt hoặc trắng xám mép có viên nâu sẫm hình gần tròn, thường phát sinh trên mép lá hoặc ngọn lá, trên lá có các chấm nhỏ xếp thành vận vòng đồng tâm.

Một loại khác là trên cành hình thành các đốm hình tròn hoặc gần tròn màu nâu nhạt, trên mặt có các chấm nhỏ màu đen.

Phòng trừ: Tỉa lá bệnh và đốt ngay; Khi tưới nước nên tưới quanh chậu, luôn bảo đảm thông gió; Phun thuốc: kỳ phát bệnh phun Bavistin 0,2% hoặc Topsin 0,2% phun 3-4 lần mỗi lần cách nhau 10 - 14 ngày.

Bệnh mốc xám có thể gây bệnh trên lá, hoa, cành. Bộ phận bị bệnh hình thành lớp mốc màu vàng hoặc màu xám, thân cây bị bệnh có thể bị thối gãy và làm cho cả cây bị chết.

Bệnh qua đông bằng hạch nấm trong đất, mùa xuân hình thành bào tử lây lan nhờ gió, mưa. Cây trồng nhiều năm, bón phân nitơ quá nhiều, trồng quá dày, thiếu ánh sáng, không thoát nước bệnh sẽ rất nặng.

Phòng trừ: Khử trùng đất trước lúc trồng; Phun thuốc: Zineb 0,2% hoặc Daconil 0,2%; 10 ngày phun 1 lần, phun 2-3 lần.

Bệnh thối cổ rễ phát sinh trên cây con là chính nhưng có thể gây ra trên các giai đoạn khác làm thối hạt, thối mầm, cây đổ và chết đứng.

Phòng trừ: Chọn đất mới hoặc khử trùng đất; Kịp thời khử bỏ cây bị bệnh, sử dụng phân hoài không. mang nấm bệnh; Phun thuốc; Dòng Zineb 0,2%; Khi mới bị bệnh phun Captan 0,2% hoặc Daconil 0,1%.

Bệnh thối nhũn phát sinh chủ yếu trên cây cảnh rễ củ, rễ chùm, sau khi cây bị thối thường có mùi, Bệnh làm cho lá, thân cây phình nước, màu sẫm, mềm có chất nhầy, cắt cây có ống dẫn màu nâu, đen. Bệnh nặng có thể thấy chất nhầy màu trắng sáp và có mùi thối tiết ra chất độc làm cho các tế bào bị chết. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển vi khuẩn là 27 - 30°C, thời tiết ẩm, đất nhiều nước có lợi cho vi khuẩn sinh sản, lây lan. Nhiệt độ cao, độ ẩm cao, không thoáng gió thường hay có bệnh này. im

Phòng trừ: Trước khi cất trữ giống cần khử trùng bằng 1:80 Formalin và chú ý thông gió, bảo đảm khô mát; Cần khử trùng đất trước khi đêm vào chậu; Trước khi trồng củ nên khử trùng bằng Streptomicin 700 đơn vi/ml, ngâm 30-60 phút; Trong thời kỳ sinh trưởng nếu thấy bệnh phải cắt bỏ ngay.

Bệnh cây do virus gây ra được gọi chung là bệnh virus. Rất nhiều loài cây cảnh bị bệnh virus như cây thuỷ tiên, cây cẩm chướng, cây loa kèn. Bệnh virus gây ra làm giảm sản lượng, gây tổn thất rất lớn. Bệnh virus thường có 3 loại hiện tượng: 1) Làm mất màu gây ra khảm lá hoặc vàng lá; 2) Mô bị chết thối; 3) Xoăn lá, lá cành nhỏ lại.

Phòng trừ: Tiêu diệt nguồn xâm nhiễm, tăng cường kiểm dịch, chăm sóc quản lý.

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn