CÂY XOÀI MANGIFERA INDICA L.
I. GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA XOÀI
Xoài là loại quả quý của vùng nhiệt đới, quả xoài khi chín có màu sắc rất đẹp và rất giàu chất dinh dưỡng. Giá trị dinh dưỡng của xoài theo phân tích, tỷ lệ thịt quả 70% so với thịt quả, hạt 13%, tổng số chất tan 16%, độ chua 0,2 tính ra axit xitric, đường tổng số 11 -12%, giá trị nhiệt lượng 100g là 70 calo. Xoài giàu vitamin A, B, và C đặc biệt là Vitamin A, trong 100g ăn được có đến 4,8mg. Ngoài ra còn có các loại muối khoáng K, Ca, P, CL. Quả xoài ngoài ăn tươi còn dùng làm đồ hộp, làm mứt, nước giải khát, cho lên men rượu, làm giấm..., nhân hạt xoài làm thuốc sát trùng, cũng có thể chế tinh bột.
II. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN SINH THÁI
Xoài là cây ăn quả có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, ngày nay có nhiều giống xoài mới được tạo ra có khả năng phát triển tốt cả ở vùng á nhiệt đới nóng ẩm. Một số yêu cầu về ngoài cảnh chủ yếu của cây xoài là:
1. Yêu cầu về nhiệt độ:
Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây xoài sinh trưởng, phát triển là 24 -26°C. Vùng trồng xoài nhiệt độ trung bình tối thấp phải đạt 15°C, tối thấp tuyệt đối là 2 – 4°C. Xoài có thể chịu được điều kiện nhiệt độ cao lên tới 44 - 45' nhưng phải cung cấp đủ nước. Mặc dù là cây ăn quả nhiệt đới, nhưng hiện nay có rất nhiều nước, vùng có điều kiện á nhiệt đới như: Đài Loan, Israel, Florida Mỹ, Nam Phi, Trung Quốc... trồng xoài. ở vùng nhiệt đới xoài có thể trồng được ở độ cao 1000m, nhưng muốn có năng suất cao và ổn định vùng trồng xoài chỉ nên giới hạn ở độ cao 600 m trở xuống để hạn chế ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ thấp tới sinh trưởng của cây.
| Cây xoài |
Xoài có thể sinh trưởng, phát triển tốt mà không cần tưới ở những vùng có lượng mưa trung bình năm từ 1200 – 1500 mm, thậm chí vùng có lượng mưa khoảng 500mm/năm, phân bố đều vào các giai đoạn lộc sinh trưởng và giai đoạn quả lớn cũng có thể trồng được xoài.
Ngoài ra, những vùng có lượng mưa nhỏ hơn 500mm muốn phát triển trồng xoài thì đòi hỏi phải có tưới. Những vùng có lượng mưa lớn hơn 1500mm cũng không thật thuận lợi cho trồng xoài vì thân lá phát triển tốt, ra hoa ít và đặc biệt sâu bệnh hại phát triển mạnh. Trong một năm cây xoài cần phải có một khoảng thời gian khô hạn vào thời điểm cuối năm để tạo điều kiện cho quá trình phân hoá mầm hoa. Thời gian xoài nở hoa yêu cầu thời tiết khô ráo để tạo thuận lợi cho quá trình thụ phấn, thụ tinh hình thành quả. Các giống xoài địa phương trồng miền Bắc sở dĩ đậu quả ít là do hoa nở sớm, T12 - T1, gặp điều kiện nhiệt độ thấp, mưa phùn kéo dài.
3. Yêu cầu về đất đai:
Xoài là cây ăn quả thích hợp trồng trên nhiều loại đất, đất vàng, đất đỏ, đất Feralit, đất phù sa cổ, đất phù sa mới ven sông... Tuy nhiên các loại đất trồng xoài đều phải có tầng dây ít nhất 1,5 – 2m. Đất lý tưởng cho trồng xoài là đất phù sa cổ, phù sa mới ven sông giàu dinh dưỡng, độ pH từ 5,5 – 7,7. Ở những vùng đất thấp trước khi trồng cần phải lên líp cao sao cho mực nước tại thời điểm cao nhất cách gốc ít nhất 1m.
III, GIỚI THIỆU VỀ CÁC GIỐNG XOÀI TRỒNG Ở MIỀN BẮC
1. Giống GL1:
Cây sinh trưởng, phát triển khoẻ, bộ tán tròn đều, phân cành mạnh, trung bình có từ 4 -5 đợt lộc trong năm. Cành tạo với thân chính một góc từ 45 –60° và phân bố đều xung quanh tán, diện tích bề mặt tán lớn.
Sau 4 năm trồng cây có chiều cao trung bình từ 4m, đường kính tán từ 4 –4,5m. Lá cây màu xanh thẫm, thuôn dài, phiến lá phẳng dài trung bình 24 cm, rộng 5,5cm có từ 18 -21 đôi gân lá, cây thường có 2 đợt hoa, đợt đầu hoa nở vào cuối tháng 1 đầu tháng 2 với số lượng ít, đợt 2 hoa tập trung nở rộ xung quanh nửa đầu tháng 4. Tỷ lệ hoa lưỡng tính của giống này khá cao, từ 21 -24% và khả năng đậu quả trung bình đạt 6%, sau đậu quả quá trình rụng quả sinh lý sẩy ra khá mạnh và tập trung chủ yếu vào tuần thứ nhất đến tuần thứ 3.
Đến thời điểm thu hoạch còn lại 2-4 quả /chùm. Thời gian từ nở hoa đến thu quả của giống GL1 từ 110 120 ngày sau trồng 3 năm năng suất trung bình đạt 5 – 8kg/cây. Khi chín vỏ quả màu vàng sáng, thịt qủa thơm. Quả có hình thuôn dài, kích thước quả trung bình đạt 250 gam/quả, tỷ lệ phần ăn được đạt 69%. Thịt quả vàng đậm, vị ngọt.
2. Giống GL2:
Cây sinh trưởng khoẻ, cành vươn ngang tạo cho cây có bộ tán thấp và rộng, bề mặt tán thưa thoáng, hàng năm trung bình cây có 5 đợt lộc. Cây sau trồng 4 năm có chiều cao trung bình 3,4m, đường kính tán 4m. Lá dài 24 -25cm, rộng 6 – 6,5cm, có từ 17 -20 đôi gân lá. Giống GL2 có khả năng ra hoa làm nhiều đợt trong năm, ngoài đợt chính nở rộ trung tuần tháng 4 còn có các đợt hoa phụ vào đầu tháng 1, đầu tháng 2 và đầu tháng 7, tỷ lệ hoa lưỡng tính trên chùm trung bình là 27%, tỷ lệ đậu quả đạt 4%, mỗi chùm khi thu hoạch có từ 2 -5 quả. Giống GL2 có thời gian từ nở hoa đến thu hoạch quả khoảng 120 ngày, quả chín không tập trung, thời gian thu quả từ trung tuần tháng 8 đến đầu tháng 9. Quả to, vỏ dây, khi chín vỏ mầu xanh vàng, trọng lượng quả trung bình đạt 390g, thịt quả mầu vàng nhạt, ngọt đậm, tỷ lệ phần ăn được đạt 73%, năng suất trung bình sau trông 3 năm đạt 10 – 15 kg/cây.
3. Giống GL 6:
Có khả năng tăng trưởng trung bình về chiều cao và đường kính tán, phân cành ít, cành có thể vươn thẳng tạo thành tán thưa và thoáng, lá to rất dây và xanh thẫm. Bề mặt lá gồ ghề, mép lá gợn sóng, phiến là dài trung bình 21cm, rộng 6,5 – 7cm có từ 15 -16 đội gân lá. Mỗi năm cây cho 4 đợt lộc. Hoa nở tập trung vào tháng 4 cho thu quả vào cuối tháng 8, đầu tháng 9, trên mỗi chùm chỉ có 1 – 2 quả. Quả có hình tròn hơi dẹp, khi chín vỏ quả xanh vàng, phớt hồng, kích thước quả lớn, trung bình đạt từ 700 – 800g/quả, cá biệt có’quả nặng tới 1,5kg, thịt quả mầu vàng, mùi thơm, vị ngọt đậm, tỷ lệ phần ăn được cao, đạt 85%. Sau trồng 3 năm năng suất trung bình từ 12 – 15kg/cây.
IV. CHUẨN BỊ ĐẤT TRỒNG
Để vườn xoài có điều kiện tốt cho quá trình sinh trưởng, phát triển, ra hoa đậu quả và cho năng suất, khâu chuẩn bị đất trồng cần phải được tiến hành chu đáo. Công việc chuẩn bị đất trồng bao gồm tất cả các khâu từ khi phát quang, dọn cỏ, thiết kế, quy hoạch vườn trồng cho đến đào hố bón lót. Tất cả các công đoạn này thông thường phải hoàn tất trước thời vụ trồng từ 20 – 30 ngày.
1. Dọn mặt bằng:
Tuỳ theo từng loại mặt bằng, thường thì trước khi trồng ta phải tiến hành phát quang, dọn mặt bằng, các bước tuần tự tiến hành như sau:
- Chặt, phá bỏ toàn bộ cây trên mặt bằng dự kiến Xây dựng vườn xoài.
- Đánh bỏ hết gốc, rễ cây to, nhặt và thu dọn sạch các loại vật liệu cứng: sành, gạch, đá....
- Dùng máy hoặc trâu cày lật đất và nhặt sạch cỏ dai.
2. Thiết kế định vị hố trồng :
Việc thiết kế vườn không tốn nhiều công nhưng đòi hỏi chính xác và tỉ mỉ. Tuỳ theo độ dốc của đất để có cách thiết kế vườn cho phù hợp. Đối với khu đất có bề mặt phẳng hoặc độ dốc nhỏ hơn 5° ta chỉ cần dùng dây kéo thẳng để xác định các cây, sau đó dựa theo đường dây cọc cứng dài từ 60-70cm để định vị hố đào. Trên đất có độ dốc cao hơn, hố trồng phải được thiết kế theo đường đồng mức (công việc này cần được tiến hành bằng thước chữ A). khoảng cách hố đào tuỳ thuộc vào giống. Giống GL1 và GL2 khoảng cách giữa các hàng từ 5- 6m, khoảng cách giữa các cây trên một hàng từ 3,5m, khoảng cách giữa các cây trên một hàng 3m.
3. Đào hố, bón lót:
Hố đào có kích thước 80 x 80 x 80 cm. Ở đất tốt kích thước hố đào có thể nhỏ hơn. Khi đào hố, lớp đất phía trên được để riêng một bên, lớp đất phía dưới để riêng một bên. Sau khi họ được đào xong, bón lót mỗi hố 50kg phân chuồng đã ủ hoai mục, 1,5-2 kg super lân. Trộn đều phân với lớp được đào từ nửa phía trên hố. Sau cùng phủ một lớp đất mỏng lên trên đất vừa trộn phân.
V. KỸ THUẬT TRỒNG:
1. Tiêu chuẩn cây giống:
Cây giống đem trồng phải đúng giống, cây được ghép trên gốc ghép là giống xoài bưởi hoặc là xoài hôi, cây được ươm trong bầu nilon có chiều cao 20 - 22 cm, đường kính bầu 12 cm. Bầu không bị dậy, VỠ. Cây ghép sinh trưởng tốt, thân cây mập, chiều cao cành ghép 40-50 cm có từ 2 -3 đợt lộc. Lá cây xanh đậm, không có vết sâu bệnh.
2. Thời vụ trồng:
Ở miền Bắc xoài được trồng vào hai thời vụ chính, vụ xuân trồng vào tháng 2,3 và đầu tháng 4, vụ thu trồng vào tháng 8 – 9. Tuy nhiên, nếu trồng với lượng ít ta có thể trồng vào nhiều thời vụ khác miễn là phải tránh thời điểm nắng nóng và rét đậm và sau khi trồng phải cung cấp đủ nước tưới cho cây.
3. Cách trồng:
Trước khi trồng, xé bỏ túi nilon ươm cây giống và đặt cây vào chính giữa hố (hố đã được bón lót đủ phân chuồng và phân lân ), vun nhẹ đất vụn vào xung quanhbầu đất và dùng tay ấn nhẹ đất xung quanh bầu.
Sau đó tiếp tục phun đất xung quanh vào cho đầy hố. Đối với đất đồi cây được trồng bằng mặt, nghĩa là khi trồng song mép phía trên của bầu đất bằng với mặt đất.
Ở vùng đất thấp cây được trồng nổi nghĩa là từng cây được trồng trên các ụ đất cao từ 0,3 – 0,8 m so với mặt bằng khu đất để tạo môi trường cho bộ rễ phát triển. Sau khi trồng xong dùng cọc có chiều cao 0,7 – 1 m cắm chéo qua thân chính và dùng dây mềm buộc chắc cây vào cọc để tránh gió lớn làm long gốc. Tủ xung quanh gốc bằng rơm, rác mục và tưới nước giữ ẩm cho cây liên tục trong một tháng đầu tạo độ ẩm cần thiết cho rễ phát triển.
VI. KỸ THUẬT CHĂM SÓC:
1.Chăm sóc thời kỳ cây chưa mang quả:
Đây là thời kỳ cây còn nhỏ, mới được 1- 3 năm tuổi. Thời kỳ này cây sinh trưởng mạnh hầu như quanh năm để hoàn thiện bộ khung tán. Chính vì vậy việc cung cấp đủ phân, đủ nước, diệt trừ cỏ dại thường xuyên để tạo điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng là rất cần thiết:
Tưới nước:
Trong thời kỳ cây còn nhỏ, việc tưới nước có thể tiến hành quanh năm nhằm cung cấp đủ nước chocác đợt lộc non hình thành và phát triển. Đặc biệt trong thời gian đầu sau khi trồng mới, việc tưới nước cần phải duy trì từ 3-4 ngày/lần. Càng về sau số lần tưới càng ít đi nhưng phải duy trì được độ ẩm thường xuyên cho diện tích đất xung quanh gốc. Để hạn chế bớt cỏ dại và ngăn cản quá trình bốc hơi nước ta nên dùng bơm rác mục, cỏ khô tủ lại xung quanh gốc, tủ phân tán cây có bán kính 0,8-1m, và để trong phần diện tích cách gốc 20cm để hạn chế côn trùng sâu bọ làm tổ, phá hoại gốc cây.
Làm cỏ:
Thời kỳ đầu do bộ tán cây còn nhỏ nên các loại cỏ dại có điều kiện sinh trưởng, phát triển. Vì vậy, làm cỏ cần phải tiến hành thường xuyên và là công việc tốn khá nhiều công sức. Tuy nhiên, tuỳ theo đặc điểm của từng vùng ta có cách thức xử lý có phù hợp khác nhau. Nếu vườn chỉ có các loại cỏ lá rộng thân thắng phát triển việc diệt trừ cỏ sẽ đơn giản và đỡ tốn công hơn nhiều. Cách diệt cỏ loại này đơn giản nhất là dùng dao phát cán dài, phía mũi dao cong loại như mũi liềm. Khi có cao khoảng 20cm thì dùng dao phát ngang sát mặt đất để cắt đứt thân cỏ. Phần thân bị cắt đứt được thu gom lại, phơi khô sau đó tủ lại xung quanh gốc cây.
Nếu có nhiều có loại một lá mầm phát triển như cỏ tranh thì việc diệt trừ sẽ tốn nhiều công sức. Diệt trừ có loại này có nhiều cách, có thể là dùng trâu cày lật đất sau đó đập nhỏ đất thu gom thân, gốc rễ cỏ phơi khô hoặc dùng thuốc trừ cỏ Touch down hay Round up phun khi cây cỏ mới mọc dài khoảng 5-10cm, nồng độ thuốc phun là 30-50ml thuốc/bình 10 lít, tuỳ theo mức độ cỏ ít hay nhiều.
Những cách trừ loại cỏ hữu hiệu nhất trong những năm đầu sau khi trồng mới là trồng xen các loại cây họ đậu: các loại đậu đỗ, lạc vừa có tác dụng loại trừ cỏ dại vừa tăng thu nhập cho chủ vườn và cải thiện độ phì của đất.
Bón phân:
Hàng năm phải duy trì ít nhất hai đợt bón phân cho cây vào tháng 8 và tháng 3-4.
Đợt bón tháng 8: 30-50kg phân chuồng hoai mục cộng 0,5-0,8kg NPK (tỷ lệ: 14:14:14) bón sâu cách mặt đất 10cm, bón xung quanh gốc cây theo độ rộng của tán.
Đợt bón tháng 3-4: Bỏ lớp rơm rác tủ xung quanh gốc ra ngoài, rắc phân NPK (14:14:14) trên mặt đất diện tích quanh tán với lượng 0,5-0,6 kg/cây. Sau đó dùng cuốc xới nhẹ mặt đất để phân lọt xuống dưới, tủ rơm rác trở lại.
Thường thì tiến hành bón phân ngay sau khi trời vừa mưa hoặc khi trời sắp mưa. Nếu sau khi bón phân đất không đủ ẩm thì phải tưới nước để giúp cho phân được hòa tan dễ dàng.
Tỉa cành tạo tán:
Để cây có bộ tán đều và cân đối trong thời kỳ cây cho quả thì việc cắt tỉa tạo hình cho cây phải được tiến hành ngay năm đầu sau trồng.
Khi thân chính cao 60cm thì ta tiến hành bấm ngọn. Sau 7-10 ngày các mầm ngủ ở nách lá phía dưới nẩy chồi mới. Có khá nhiều chồi ở phía dưới vết cắt được mọc ra. Chọn 3 mầm khỏe mọc cân đối hướng về 3 phía để lại (cành lung cấp 1), các mầm còn lại được vặt bỏ đi.
Quá trình vặt bỏ các chồi vô dụng phải được tiến hành liên tục cho đến khi chồi được để lại có lá chuyển màu xanh lúc đó nó sẽ ức chế sự hình thành của các chồi khác. Khi cành khung cấp 1 dài khoảng 50cm (có từ 2-3 đợt lộc) ta bấm ngọn và cũng chỉ chọn 2-3 chôi khỏe phân bố đều về các hướng để lại (cành khung cấp 2) các chồi còn lại vặt bỏ đi. Khi cành khung cấp 2 dài 50cm ta lại bấm ngọn và cũng chỉ chọn 2-3 chội khỏe phía dưới để lại (cành khung cấp 3). Và quá trình này được tiến hành liên tục trong 2 năm đầu để tạo các cành khung cấp 4,5...
2. Chăm sóc thời kỳ cây mang quả:
Bón phân:
Sau trong 3 năm thì cây cho quả bói, từ năm thứ tự trở đi việc bón phân cho xoài cần phải có những hiểu biết nhất định để đảm bảo cho cây vẫn hình thành các đợt lộc mới nhưng vẫn cho ra hoa và cho quả đều. Điều này không những liên quan đến lượng phân bón tỷ lệ các loại phân bón mà còn liên quan chặt chẽ đến thời điểm bón phân.
Có thể bón phân làm nhiều đợt trong năm, nhưng đợt bón quan trọng nhất là đợt bón sau thu quả. Đợt bón này nhằm cung cấp kịp thời lượng dinh dưỡng cần thiết cho cây tái tạo đợt lộc mới (đợt lộc thu) nhưng mặt khác cũng cần hạn chế lượng phân bón ở mức phù hợp để không làm cho các đợt lộc thu sinh trưởng quá mạnh, kéo dài vì điều này có liên quan đến độ thuần thục của lộc.
Tuỳ theo tuổi và độ phì của đất, sau thu quả bón 3-5 kg phân NPK (tỷ lệ 14:14:14) cộng với 50 kg phân chuồng ủ mục cho một cây. Bón theo rãnh sâu 20cm, rộng 20cm xung quanh gốc theo hình chiếu của tán. Sau khi bón phân, lấp đất kín, dùng rơm rác, cỏ khô phủ lên trên và tưới ẩm ngay. Ngoài ra có thể bón thêm 1-2 đợt vào tháng 4 nhằm hạn chế quá trình rụng quả non và tháng 56 nhằm tăng cường quá trình lớn của quả. Lượng phân bón cho đợt tháng 4 là 200g urê/cây, đợt tháng 5-6 là 100g urê + 100g ure + 10g kali clorua. Bón phân nổi trên mặt đất, phần diện tích xung quanh tán, sau đó xới nhẹ cho phân lọt xuống và phủ rơm rác lên trên, tưới nước.
- Làm cỏ:
Khi cây càng lớn, bộ tán rộng thì việc làm cỏ càng được giảm nhẹ. Tuy nhiên phần diện tích xung quanh tán cây phải luôn được làm cỏ sạch sẽ để đảm bảo lượng dinh dưỡng bón cho cây không bị mất đi do cỏ dại. Sau khi có nhổ lên được tủ lại xung quanh gốc để hạn chế sự phát triển của đợt cỏ mới. Phần diện tích giữa các hàng cây không nhất thiết phải dãy sạch cỏ vì dẫn đến hiện tượng xói mòn đất khi có mưa lớn mà chỉ hạn chế không cho cỏ sinh trưởng quá lớn, cạnh tranh dinh dưỡng của cây.
- Tưới nước:
Trong thời kỳ cây mang quả, việc tưới nước cũng cần phải lưu ý để không làm ảnh hưởng đến chu kỳ sinh trưởng, phát triển bình thường của cây trong năm. Việc tưới nước cần phải tập trung nhiều vào ngay sau khi bón phân sau thu quả để tạo điều kiện cho các đợt lộc thu hiình thành và phát triển. Sau khi có đợt lộc thu thứ 2 hoặc thứ 3 thì ngưng tưới nước để kìm hãm sự hình thành các đợt lộc tiếp theo và việc ngừng tưới nước được duy trì trong suốt cả mùa đông để tạo điều kiện cho quá trình thuần thục của lộc. Từ khi bắt đầu nở hoa cho đến suốt thời kỳ đậu quả và quả non phát triển cần phải thường xuyên tưới nước, vừa hạn chế tỷ lệ rụng quả, vừa tăng cường quá trình lớn của quả. Trước thời điểm thu quả 1 tháng ngừng tưới nước để cải thiện chất lượng của quả.
- Cắt tỉa:
Công việc cắt tỉa được tiến hành ngay sau khi thu quả. Cắt bỏ tất cả các cành mọc lộn xộn trong tán, cành nhỏ, cành sâu bệnh. Một số cành vượt mọc thẳng đứng cũng được cắt bỏ đi để tạo độ thông thoáng trong tán cây và tạo điều kiện cho ánh sáng lọt xuống phía trong tán.
VII. MỘT SỐ SÂU, BỆNH CHÍNH VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ.
1. Sâu hại:
+Rầy trích hút (Idioscopus niveospair Sids Lethierri):
Còn gọi là rầy nhảy thuộc nhóm côn trùng có miệng chích hút. Râu có dạng hình nêm, thân dài 3-5mm, màu xanh đến màu nâu. Rây thường đầu nhiều ở các chùm hoa, khi động thì nhảy tung lên như đám bụi. Rầy phá hoại mạnh nhất ở giai đoạn sâu non. Rầy nhẩy trong khi gây hại tiết ra một loại dịch trên phiến lá và cuống hoa quả, sau đó một số loại nấm phát triển trên dịch đó tạo thành lớp muội màu đen như bồ hóng làm giảm khả năng quang hợp của cây. Do rây có kích thước nhỏ, di chuyển nhanh nên tương đối khó phát hiện và khó phòng trừ. Rầy gây hại quanh năm và chủ yếu tấn công vào các bộ phận non của cây như: lộc non, chùm hoa, quả non.
Trên các lá non rầy gây hại trên cả hai mặt của lá là cho lá bị biến dạng và thủng lỗ rỗ trên bề mặt. Trên các chùm hoa, cây chích hút gây ra hiện tượng rụng hoa và quả non. Việc phòng trừ rầy chích hút cần phải được tiến hành kịp thời, vào thời điểm thích hợp thì hiệu quả phòng trừ rất cao. Để bảo vệ các đợt lộc non ta cần phun phòng trừ rầy ngay ngay các đợt lộc xuất hiện. Khi các đợt lộc này chuyển dần sang bánh tẻ thì hầu như không bị rầy gây hại nữa. Để phòng trừ rầy trong giai đoạn này ta chỉ cần sử dụng một số loại thuốc đơn giản như: Trebon - 0,15%, Wofatox -0,1%, Sumicidine - 0,15%.
+Rệp sáp (Pseudoccus sp):
Là loại côn trùng trích hút nhựa cây trên các bộ phận non. Rệp chủ yếu gây hại ở mặt dưới của lá. Khi thấy xuất hiện rệp hại cần phải tiến hành phun phòng trừ ngay bằng một số loại thuốc thông dụng như đối với phòng trừ rầy.
1.3. Ruồi đục quả:
Ruồi có thân màu nâu vàng, chân màu vàng, cánh trong suốt. Ruồi cái đẻ trứng ở dưới vỏ xoài, sau 2-3 ngày trứng nở thành dòi, dòi đục phá thịt quả thành những đường hầm làm cho thịt quả thối rữa ra. Ở mức độ nhẹ, trông bề ngoài quả xoài vẫn bình thường nhưng khi bổ quả ra thì toàn bộ phần thịt quả bên trong đã bị thối và có rất nhiều dòi ở trong. Ruồi chỉ gây hại trên các quả sắp chín. Để phòng trừ ruồi ta có thể đánh bả (trộn Methyl) vào thời quả xoài sắp già, kết hợp với vệ sinh đồng ruộng bằng cách nhặt bỏ tất cả các quả thối rụng, cành khô, cành sâu bệnh đem đốt, chôn kỹ. 2. Bệnh hại:
+Bệnh thán thư (Collectotrichum gloeosporioides Penz)
Đây là bệnh gây hại quan trọng trên cây xoài. Triệu chứng điển hình là những vết bệnh màu nâu đỏ trên lá, sau đó vết bệnh khô là làm cho lá thủng. Trên cuống chùm hoa, bệnh xuất hiện với các vết màu nâu đen nhỏ, sau đó vết bệnh lan dần ra và nhập vào nhau thành một vệt dài. Bệnh xuất hiện gây ra hiện tượng rụng hoa và quả non. Trên quả, vỏ bị hại có các đốm đen tròn, lõm xuống. Bệnh thán thư xuất hiện và gây hại nặng trong điều kiện thời tiết mưa, ẩm độ cao. Để hạn chế bệnh thán thư ta cần phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình phòng bệnh bao gồm:
Cắt tỉa, vệ sinh tán cây ngay sau khi thu quả bằng cách loại bỏ cành già, cành sâu bệnh tạo cho bộ tán thông thoáng.
- Bón phân thúc: Bón cân đối các loại phân.
- Phun phòng bệnh bằng dung dịch Boocđô 1%.
Khi bệnh xuất hiện ta có thể phun trừ bệnh bằng một số loại thuốc: Ridomil MZ 72-0,3%, Benlat C 0,20,3%.
+ Bệnh nấm phấn trắng (Oidium mangiera)
Bệnh phát sinh mạnh vào thời điểm cuối năm, ngày nắng đêm lạnh, ẩm độ cao. Khi bệnh xuất hiện ta dễ dàng nhìn thấy các sợi nấm màu trắng tạo thành từng đám trong như bụi phấn. Bệnh này chủ yếu gây hại trên chùm hoa và cũng gây ra hiện tượng rụng hoa, quả non. Phòng trừ bệnh này bằng thuốc Score 0,1%, Rovral 0,2%.
| lá xoài bị bọ phá hoại |
VIII. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN
Từ khi đậu quả cho đến khi quả chín cần khoảng thời gian 90-120 ngày tùy theo từng giống. Tuy nhiên, xác định chính xác thời điểm thu quả cho từng giống ta có thể đưa vào một số đặc điểm sau:
-Khi quả còn xanh núm quả chỗ tiếp giáp với cuống quá nổi cao hơn so với vai quả, khi quả sắp chín núm quả tụt thấp xuống ngang hoặc thấp hơn vai quả. - Màu sắc vỏ quả khi gần chín chuyển từ màu xanh đậm sang màu xanh nhạt, phớt vàng.
- Khi đến thời điểm thu hoạch có một số quả rụng tự nhiên.
| quả xoài chuẩn Vietgap |
Khi thu quả không nên bẻ sát phần cuống quả vì nhựa từ vết bẻ rất dễ chảy lên trên bề mặt quả làm đen vỏ quả. Công việc thu quả cần tiến hành vào buổi sáng hay chiều mát. Quả thu xuống được đặt trong thùng, sọt tre, tránh để quả trực tiếp quả xuống đất. Vì làm như vậy nấm bệnh trong đất rất dễ xâm nhập lên vỏ quả và làm cho quả bị thối trong quá trình giấm chín. Sau đó rửa sạch quả để ráo nước và rấm bằng đất phèn với lượng 2g/1kg quả trong thời gian 2 ngày. Sau giai đoạn rấm ta dỡ quả để ở chỗ thoáng mát cho quả chín tự nhiên.